Muaban24 có dấu hiệu lừa đảo?


Chi bạc triệu mở gian hàng rồi kiếm tiền bằng việc lôi kéo thành viên khác, nhiều người khi đã trót tham gia vào trang mua bán trực tuyến Muaban24 đã rất bức xúc khi phải chịu cảnh tiền mất tật mang vì không thể đòi lại được số tiền nộp vào công ty.

Bài đăng trên website:www.vtv.vn
Bài đăng trên website:www.vtv.vn
(Trang thông tin chính thức của Đài Truyền hình Việt Nam)
 
Hàng trăm nông dân Đăk Lăk mua gian hàng điện tử tại công ty cổ phần đào tạo Mua bán trực tuyến (Muaban24) giờ đang lâm vào cảnh vỡ nợ vì không đòi được tiền. Thực trạng này đang diễn ra trong những ngày qua. Các phương tiện thông tin đại chúng đang nhận được ngày một nhiều phản hồi của những người dân vốn là thành viên của Muaban24.
 
Chị Đoàn Hải Yến là một trong số rất nhiều nạn nhân đã tốn hàng chục triệu đồng để mua những gian hàng ảo mà công ty Muaban24 giới thiệu. “Tôi đã mất 20 triệu đồng vào đây, sau đó lại rủ 1 chị bạn nữa đóng góp thêm 20 triệu đồng. Hai chị em tôi mất 40 triệu đồng, nhưng sau một thời gian hoạt động tôi thấy không như mình nghĩ lúc đầu, tất cả chỉ là gian hàng ảo, không có hàng hóa và không mua bán gì…”.
 
Sau nhiều lần đề nghị và vô cùng bức xúc, chị Yến mới may mắn đòi lại được tiền. “Phải rất nhiều lần đến văn phòng công ty nói về vụ việc này, tôi không làm được nữa, thể hiện thái độ bức xúc thì mới may mắn lấy được số tiền lúc đầu”, chị Đoàn Hải Yến (thành viên Muaban24) cho biết.
 
Theo thông tin từ người dân địa phương sống gần chi nhánh của công ty Muaban24 ở Văn Quán, Hà Đông, những ngày qua đã có rất nhiều người đến đòi tiền nhưng đều không được giải quyết. Còn khi có sự xuất hiện của phóng viên thì các nhân viên công ty đã tìm cách che giấu hoạt động của mình… Trong khi đó, hầu hết những lệnh truy cập vào trang Muaban24 đã không còn được cập nhật như trước đó.


Theo Nguyễn Trang - Thái Bảo

Mô hình lừa đảo "kiểu Muaban24" đã hoành hành và biến thể như thế nào?

(Dân trí) - Tranh thủ sự cả tin và tâm lý hám lời cao của người nhẹ dạ, các “ông trùm” của các mô hình Ponzi kiểu Muaban24 đã trục lợi trên mồ hôi, nước mắt của người khác để bỏ túi hàng trăm tỷ. Trên thế giới những vụ scandal tương tự không phải hiếm.
Thế giới cũng "đau đầu" vì lừa đảo kiểu Muaban24

Thời gian qua, dư luận trong nước đã rúng động khi đường dây lừa đảo Muaban24 với các chân rết ở khắp các tỉnh thành bị bóc gỡ, với hàng nghìn nạn nhân. Số tiền bị các “ông trùm” Muaban24 chiếm đoạt lên tới hàng trăm tỷ đồng. Rất nhiều gia đình đã tan cửa nát nhà vì lỡ có người bị lôi kéo vào mạng lưới lừa đảo này.
Những kẻ chủ mưu trong vụ lừa đảo của MB24 đang dần lộ diện
Những kẻ chủ mưu trong vụ lừa đảo của MB24 đang dần lộ diện
Vì sao Muaban24 có “ma lực” lôi kéo nhiều người tham gia đến vậy? Mô hình lừa đảo này có gì mới mà khiến người tham gia không thể nhận ra ngay từ đầu? Thực chất mô hình kinh doanh của Muaban24 chính là huy động tiền của người đến sau trả cho người đến trước, mà trên thế giới vẫn được biết đến dưới cái tên mô hình Ponzi. 
Ngay tại một nước phát triển, dân trí cao như Mỹ vẫn có rất nhiều người trở thành nạn nhân của những vụ lừa đảo kiểu này. Số tiền thiệt hại có thể lên tới vài chục tỷ USD với nạn nhân không chỉ bó hẹp trong biên giới nước Mỹ mà trên khắp thế giới. 
Tiêu biểu nhất phải kể đến vụ lừa đảo của “siêu lừa” Bernard Madoff năm 2008 với số tiền ước tính 65 tỷ USD. Mới đây hơn, năm 2011 tỷ phú Mỹ Allen Stanford cũng phải nhận án phạt 110 năm tù vì đã lừa đảo 7 tỷ USD trong suốt 20 năm từ những người nhẹ dạ cũng nhờ mô hình Ponzi.
Mô hình này được đặt tên theo Charles Ponzi, một tay lừa đảo người Italia sống tại Boston Mỹ. Tháng 8/1919, tên này nhận được từ một người quen ở quê nhà phiếu mua tem quốc tế. Với phiếu mua hàng này, người sở hữu có thể đến bưu điện đổi thành tem. Ponzi nhận ra rằng phiếu mua tem này không phải được mua tại Italia mà ở Tây Ban Nha với một mức giá rẻ, chỉ bằng 1/6 giá tem lúc bấy giờ ở Mỹ. 
Ponzi nảy ra ý nghĩ huy động USD từ người Mỹ để đem mua phiếu mua tem tại Tây Ban Nha sau đó chuyển phiếu này ngược trở lại Mỹ để đổi lấy tem rồi đem bán kiếm lời. Nghĩ là làm, tháng 1/1920 Ponzi mở công ty rồi phát tờ rơi, hứa hẹn trả lãi lên tới 40% trong vòng 90 ngày cho các những ai đồng ý góp vốn. 
Tại thời điểm đó lãi suất ngân hàng chỉ là 5%/năm nên chỉ sau thời gian ngắn, người dân ùn ùn kéo tới gửi tiền tại công ty của Ponzi. 1 tháng sau, số nhà đầu tư càng tăng vọt khi mức lãi suất được hứa hẹn lên tới 100% sau 90 ngày và 50% cho 45 ngày. Ponzi đem số tiền huy động được gửi ngân hàng, trở thành khách hàng VIP tại đây và sau đó là cổ đông lớn nhất. Để tạo vỏ bọc cho việc lừa đảo, Ponzi mua mua nhiều đất đai và sống cuộc sống xa hoa. 
Chỉ đến khi báo Boston Post khởi đăng loạt bài điều tra chỉ ra rằng công ty của Ponzi không thể sinh lời đủ để trả cho nhà đầu tư, cơ quan kiểm toán của chính phủ vào cuộc phanh phui số nợ hàng triệu USD vào thời điểm đó, mô hình này mới sụp đổ. Kể từ đó cái tên mô hình Ponzi bắt đầu được biết đến.
Kể từ đó đến nay nước Mỹ đã nhiều lần rúng động vì những vụ lừa đảo kiểu này, nhất là khi thị trường tài chính phát triển cao, các sản phẩm trở nên phức tạp khiến nhà đầu tư khó lòng hiểu tường tận. Vụ scandal gây chấn động nhất và được xem là nghiêm trọng nhất trong lịch sử lừa đảo trên thị trường tài chính Mỹ phải kể đến vụ án của “siêu lừa” Bernard Madoff năm 2008.
Với uy tín là chủ tịch sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ, một trong 3 sàn lớn nhất nước Mỹ hiện nay, Madoff huy động được hàng chục tỷ USD thông qua công ty đầu tư của mình có tên Bernard L. Madoff Investment Securities LLC. 
Bernard L. Madoff (giữa) bị kết án 150 năm tù vì lừa đảo theo mô hình Ponzi
Bernard L. Madoff (giữa) bị kết án 150 năm tù vì lừa đảo theo mô hình Ponzi
Theo cáo trạng của cơ quan điều tra, suốt từ những năm 1970, công ty của Madoff đã tiến hành lừa đảo. Khác với các “ông trùm” của mô hình Ponzi khác, Madoff không hứa hẹn mức lãi suất cao cho nhà đầu tư mà liên tục gửi cho nhà đầu tư những bản sao kê giả của tài khoản nhà họ mở tại công ty của mình. 
Người bị hại sẽ thấy số tiền lời trong tài khoản dù không cao nhưng liên tục tăng ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng. Vì vậy họ không ngừng giới thiệu tới người khác tham gia góp vốn. Đến khi có người muốn rút tiền, Madoff chỉ đạo nhân viên lấy tiền góp vốn của các nhà đầu tư khác để chi trả. Nạn nhân của “siêu lừa” này thuộc đủ mọi tầng lớp, từ người lao động, tầng lớp trung lưu, những người có ảnh hưởng lớn bất kể già trẻ. 
Chỉ tính riêng số người nộp đơn xin bồi thường sau khi vụ việc vỡ lở đã lên tới hơn 15.000 người. Và cũng giống như những nạn nhân của Muaban24, trong khi Madoff yên phận với án tù 150 năm thì những nạn nhận của vụ scandal này không chỉ mất hết tiền của mà là cả tương lai. 
Mới đây nhất, ngày 17/8, Ủy ban chứng khoán Mỹ đã đóng cửa trang web ZeekRewards.com và phong tỏa tài sản của công ty sở hữu trang web này là Rex Venture Group cũng vì hành vi lừa đảo theo mô hình Ponzi. Quy mô của vụ lừa đảo này được xác định khoảng 600 triệu USD (tương đương hơn 12.000 tỷ đồng) với số người bị hại hơn 1 triệu sau chỉ hơn 1 năm thực hiện.
Những ai truy cập vào ZeekRewards đều được đề nghị đóng một khoản phí thành viên để trở thành “đối tác” với lời hứa hẹn sẽ được chia sẻ lợi nhuận. Trên thực tế, công ty này dùng chính tiền của người đăng ký sau để trả cho người đến trước. 
Những dấu hiệu để phát hiện một mô hình Ponzi?
Theo Ủy ban chứng khoán Mỹ, các mô hình Ponzi đều có những đặc điểm chung dễ nhận biết như sau:
Hứa hẹn lợi nhuận cao với rủi ro thấp hoặc không hề có rủi ro: Bất kỳ khoản đầu tư nào cũng sẽ rủi ro nhất định và những khoản đầu tư có khả năng sinh lời càng cao thì rủi ro càng lớn. Vậy nên hãy cảnh giác với những cơ hội đầu tư mà lợi nhuận được hứa hẹn là chắc chắn.
Lợi nhuận quá ổn định: Các khoản đầu tư luôn biến động theo thời gian, đặc biệt là những khoản nhắm tới lợi nhuận cao. Do đó nếu một cơ hội đầu tư nào đó được chào mời rằng sẽ liên tục sinh lời ở mức ổn định bất kể tình hình thị trường ra sao thì đó rất có thể là một mô hình Ponzi.
Các quỹ đầu tư không rõ ràng về danh tính: Đa số các mô hình Ponzi đều liên quan đến các quỹ đầu tư không được đăng ký với cơ quan chức năng, hay không được cấp phép. Việc đăng ký này rất quan trọng bởi nó giúp nhà đầu tư nắm được những thông tin chính yếu về ban lãnh đạo công ty, các sản phẩm, dịch vụ và tình hình tài chính của công ty đó.
Chiến lược đầu tư phức tạp và/hoặc bí mật: Các nhà đầu tư nên tránh xa các loại hình đầu tư mà mình không hiểu rõ hoặc những chiến lược đầu tư được quảng cáo là “bí mật”, chưa thể tiết lộ. 
Nhập nhèm về hồ sơ: Đừng bao giờ nhẹ dạ, tin vào những dự án được giới thiệu miệng mà không có tài liệu bằng văn bản. Hãy đọc kỹ bản báo bạch hoặc tài liệu công bố thông tin của các quỹ đầu tư trước khi quyết định góp vốn. Ngoài ra những sai sót trong bản sao kê tài khoản cũng có thể là dấu hiệu cho thấy vốn đầu tư không được sử dụng đúng mục đích. 
Gặp khó khăn khi rút vốn hoặc chi trả lợi nhuận: Hãy cảnh giác nếu bạn không nhận được tiền lời hoặc gặp khó khăn khi muốn rút vốn. Hãy nhớ rằng các thuyết khách của mô hình Ponzi luôn khuyến khích người tham gia đừng vội rút tiền lãi bằng cách hứa hẹn khoản lãi sẽ cao hơn nếu nhà đầu tư chờ thêm một thời gian nữa. 
Ngoài mô hình Ponzi kể trên, trên thế giới và cả tại Việt Nam những năm gần đây cũng ghi nhận một biến thể khác của nó đó là mô hình kim tự tháp hay còn gọi là mô hình bán hàng đa cấp. Điểm chung của hai mô hình này đó là đều dùng tiền của người đến sau trả cho người đến trước chứ không phải từ lợi nhuận của việc đầu tư hay bán sản phẩm ra thị trường.
Dù vậy so với mô hình Ponzi, mô hình kim tự tháp có một số điểm khác biệt. Trước hết thay vì hứa hẹn về khoản đầu tư sinh lời cao với rủi ro thấp để “hút” tiền từ nạn nhân, “ông trùm” các mô hình kim tự tháp sẽ cam kết rằng người tham gia sẽ kiếm lời cao sau khi góp một số tiền nhất định và tuyển thêm được một lượng người bán sản phẩm đó. Nhưng thực chất các sản phẩm này không tồn tại, hoặc là hàng kém chất lượng, hoặc chỉ được mua bán giữa các thành viên của mô hình này.
Với mô hình đa cấp, để được hưởng lợi nhuận, người tham gia bắt buộc phải tuyển được người tham gia mới. Các khoản lợi nhuận thực chất không đến từ việc bán sản phẩm của công ty mà là từ tiền góp của các thành viên mới để được gia nhập vào mạng lưới. 
Theo các chuyên gia, so với mô hình Ponzi thì mô hình kim tự tháp này thường sụp đổ nhanh hơn nhiều bởi nó đòi hỏi số lượng người tham gia ở mỗi cấp phải tăng liên tục. Chỉ cần có một cấp nào đó gặp khó khăn trong việc tuyển người mới, cả “kim tự tháp” sẽ sụp đổ.
Để tránh mắc bẫy mô hình này, nhà đầu tư cần cảnh giác với những “cơ hội” kiếm lời đi kèm với yêu cầu phải lôi kéo thêm những người mới để tăng lợi nhuận hoặc được hoàn lại số tiền góp vốn ban đầu. Ngoài ra việc xác minh tính hợp pháp của bất kỳ quỹ đầu tư hay công ty bán hàng đa cấp nào trước khi đầu tư là rất cần thiết.

Sang quán cafe ở TPHCM, Sang quán cafe ở quận 8

- Bận việc không có thời gian kinh doanh nên cần sang gấp quán cafe Số 1098 Phạm Thế Hiển , Phường 5 , Quận 8 !
- Diện tích khuôn viên quán : 4m x 20m . 
-Giá thuê mặt bằng là 7 triệu/tháng có phòng ngủ cho nhân viên, không phải đặt cọc tiền nhà. Quán có truyền hình K+, WIFI......
- Gía sang thỏa thuận, bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất đang kinh doanh , quán được thiết kế hiện đại sang trọng , dàn âm thanh , anh sáng chuẩn , hiện quán đang kinh doanh thu nhập ổn định , nằm ngay mặt tiền đường chính khu vực kinh doanh sầm uất giao thông đi lại thuận tiện , khách sang vào có thể kinh doanh ngay không cần đầu tư thêm !

Liên hệ 0906625068 để có giá tốt nhất
http://aloyou.com/home/chitiet/1183/Sang-quan-cafe-o-TPHCM-Sang-quan-cafe-o-quan-8.html
- Sang quán cafe ở tphcm. 
- Cần sang quán cafe tphcm.
- Sang quán cafe giá rẻ tphcm.
- Cần sang gấp quán cafe tphcm.
- Cho thuê quán cafe tphcm.
- Quán cafe giá rẻ tphcm.
- Sang gấp quán cafe giá thỏa thuận.
- Bán quán cafe tphcm.
- Sang quán cafe ở quận 8.
- Sang quán cafe quận 8.

10 bí mật khó tin của triệu phú


Bất cứ ai cũng có những bí mật và các triệu phú không phải ngoại lệ. Những tiết lộ dưới đây sẽ làm chúng ta phải ngạc nhiên.

1. Bạn có thể nghĩ tôi nhiều tiền, nhưng tôi thì không nghĩ như vậy

Theo một nghiên cứu tại Mỹ, 46% triệu phú được hỏi cho biết không cảm thấy mình là người giàu có. Họ luôn quan tâm lo lắng tới các vấn đề như sức khoẻ, hưu trí và cả việc duy trì cuộc sống thường ngày. Thực tế cho thấy, rất nhiều triệu phú không đủ khả năng chi trả cho sự xa hoa vốn có của mình. Với tình hình kinh tế như hiện nay, mỗi năm họ phải bỏ ra 300.000 USD để nuôi tấm thẻ thành viên câu lạc bộ chơi golf hạng sang, 2,9 triệu USD cho các chi tiêu hàng ngày thay vì một triệu USD như trong quá khứ. Khoảng 2/3 trong số các tỷ phú sở hữu khối tài sản có giá trị ròng 2,5 triệu USD hoặc ít hơn thế. Vì vậy, cảm giác "giàu có" chưa bao giờ là đủ. Ảnh: AFP

2. Tôi mua đồ ở siêu thị Wal-Mart

Phần lớn triệu phú thường đi lên từ các gia đình thuộc tầng lớp trung lưu và 65% trong số họ mới giàu có khoảng 15 năm trở lại đây. Họ có thể không mua khăn giấy giá 99 xu nhưng vẫn biết giá của chúng là bao nhiêu để tiết kiệm tiền. Khoảng 84% cho biết họ thường xuyên mua hàng hiệu theo các đợt giảm giá, săn tìm những phiếu khuyến mại và có mặt tại chuỗi các cửa hàng bán lẻ như Wal-Mart, Costco... Các cuộc khủng hoảng tài chính gần đây càng khiến cho giới thu nhập 6 chữ số này cẩn thận hơn trong việc mua sắm. Ảnh: AFP

3. Tôi không giàu nhờ bủn xỉn

Vậy làm thế nào để trở thành triệu phú? Có một cách là tạo lập doanh nghiệp tư nhân. Theo cuộc khảo sát của AmEx/Harrison thì một phần ba số triệu phú kiếm tiền theo cách này và chỉ 5% giàu nhờ thừa kế. Các triệu phú thường có những quyết định rất gắt gao về việc sử dụng những khoản nợ . Jim Bell – Giám đốc hãng tư vấn đầu tư Bell – hiện sở hữu căn nhà trả góp trị giá 1,5 triệu USD, cho biết: "Bất cứ ai nghiêm túc làm giàu cũng đều muốn mua một căn nhà trả góp. Tôi đã thanh toán hết 900.000 USD, phần còn lại chưa cần thiết phải trả ngay". Và Jim đã đầu tư số tiền còn lại cho công ty. Ảnh: Blogspot.com

4. Tôi có “người quen” ở mọi nơi

Những nhà hàng nổi tiếng, ghế VIP hoặc các tiệm Spa bạn muốn đến đều có thể đã bị đặt sẵn trước cả tháng và bạn không còn cách nào khác ngoài chờ đợi cho tới tháng sau. Với các triệu phú, họ có người quen ở khắp nơi. Chỉ một cuộc điện thoại, họ sẽ có ngay bàn VIP tại một nhà hàng sang trọng ưa thích hoặc được vào khám bệnh trực tiếp mà không cần phải xếp hàng chờ đợi tới lượt. (Ảnh: investmentbankersnetwork.com)

5. Bạn không thể làm giàu nếu cứ sống tử tế

Rất nhiều triệu phú đã kín đáo thừa nhận họ từng có hành vi xấu chơi trong kinh doanh. Tuy vậy, thất bại cũng không là vấn đề khiến họ nản chí. (Ảnh: popsci.com)

6. Những khoản thuế chỉ dành cho một số ít người

Thực tế, 1% số người giàu nhất phải đóng thuế lên tới 40% trên tổng thu nhập của mình . Tuy vậy, họ đã sử dụng rất nhiều hình thức khác nhau như khai báo giá tài sản thương mại thấp hơn và tăng các khoản chi phí để được hưởng ưu đãi thuế, nhằm bảo vệ khối tài sản kếch xù. Đây là cách mà giới siêu giàu thường làm. (Ảnh: ticotimes.net)

7. Tôi từng bị điểm B

Khi được hỏi về chìa khoá thành công, câu trả lời đầu tiên của các triệu phú thường là “chăm chỉ lao động”, đứng thứ hai là “quyết tâm” và cuối cùng là “tôn trọng người khác”. Jim Taylor – Phó chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn Harrison – cho rằng: “Những thứ chúng ta hấp thu ở trường không quan trọng bằng cách chúng ta học và tuân thủ kỷ luật”. (Ảnh minh hoạ)

8. Bạn thích chiếc Ferrari của tôi? - Nó chỉ là đồ đi thuê

Thật phí phạm nếu phải bỏ ra 250.000 USD để sở hữu một chiếc Ferrari trong khi chi phí đi thuê chỉ có 10 nghìn USD và bạn sẽ chỉ sử dụng chiếc xe này vài tuần trong một năm. Ngoài siêu xe, giờ đây những triệu phú này còn có thú vui là đi thuê đồ trang sức. Laura Carrington – sáng lập viên, giám đốc tạo mẫu tại Adorn – cho biết: “Chúng tôi đã gặp những vị khách giàu có không bao giờ chịu bỏ ra 5.000 USD để mua trang sức cao cấp nhưng sẵn sàng dùng 200 USD để thuê chúng”. (Ảnh: flipwallpapers.com)

9. Hoá ra tiền bạc có thể mua được hạnh phúc

Thực tế cho thấy, việc nhiều tiền giúp chúng ta có những cơ hội trải nghiệm khác nhau. Theo nghiên cứu của Wharton, những người giàu có xu hướng sức khoẻ tốt hơn, tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm thấp hơn so với phần còn lại của dân số. (Ảnh: oguestatus.edublogs.org)

10. Khi bạn lo lắng việc phấn đấu bằng người đồng nghiệp, tôi theo đuổi đích đến của tỷ phú Trumps

Sự giàu sang có thể đi một chặng đường dài hướng tới việc tạo ra hạnh phúc, nhưng những người giàu có thuộc tầng lớp trung lưu vẫn chưa đủ khả năng cho cuộc sống của một tỷ phú. Họ cần phải tiếp tục kiếm tiền, leo lên những nấc thang danh vọng mới và khẳng định thương hiệu mạnh mẽ hơn.

10 CEO lương cao nhất trong ngành quảng cáo toàn cầu


Đứng đầu là CEO Tập đoàn truyền thông MDC Partners, Candana với thu nhập gần 23,8 triệu USD năm 2011.

1. Miles S. Nadal – CEO MDC Partners, Canada

Năm 2010, lương của Miles khoảng 6 triệu USD nhưng sang năm 2011, con số này tăng tới 278%, nâng tổng mức thù lao vị CEO này hưởng ước tính 23.797.424 USD. Dù doanh thu MDC Partners tăng 37%, chủ yếu đến từ các thương vụ mua lại trong năm qua, nhưng cũng không cứu nổi việc rớt giá cổ phiếu. Công ty này đồng thời cũng phải chịu khoản lỗ trị giá 77 triệu USD. Tuy nhiên, những vấn đề này dường như không tác động lớn tới mức lương trả cho CEO Miles.
Năm 2010, thu nhập của Miles khoảng 6 triệu USD nhưng sang năm 2011, con số này tăng 278%, lên 23.797.424 USD. Dù doanh thu MDC Partners tăng 37%, chủ yếu đến từ các thương vụ mua lại trong năm qua, nhưng cũng không cứu nổi việc rớt giá cổ phiếu. Công ty này đồng thời cũng phải chịu khoản lỗ trị giá 77 triệu USD. Tuy nhiên, những vấn đề trên dường như không tác động lớn tới mức lương trả cho CEO Miles.

2. Maurice Levy – CEO Publicis, Pháp

Trên giấy tờ, Maurice được nhận 4.580.698 USD vào năm 2011. Tuy nhiên sau khi hoàn thuế, con số này lên tới 21,6 triệu USD giúp ông trở thành CEO công ty truyền thông nhận lương cao nhất nước Pháp.

3. John D.Wren – CEO Omnicom, Mỹ

Lương của John một thời từng là đề tài tranh luận của các chuyên viên phân tích phố Wall nhiều năm qua. Hiện tại, thù lao ông nhận trong năm đạt 15.420.537 USD. Thậm chí, ngay cả khi John qua đời, ông vẫn được hưởng 20,4 triệu USD tiền lương. Năm 2011, doanh thu Omnicom tăng 10%, đạt 13,8 tỷ USD, thu nhập ròng lên 15%, tương đương 953 triệu USD, vì lẽ đó, thu nhập của John cũng được thêm 43%.
Lương của John từng là đề tài tranh luận của các chuyên viên phân tích phố Wall nhiều năm qua. Thù lao ông nhận trong năm ngoái đạt 15.420.537 USD. Năm 2011, doanh thu Omnicom tăng 10%, đạt 13,8 tỷ USD, thu nhập ròng lên 15%, tương đương 953 triệu USD, vì lẽ đó, thu nhập của John cũng được thêm 43%.

4. Michael I. Roth – CEO Interpublic Group, Mỹ

Năm 2010, thu nhập Michael nhận tăng lên tới 12.983.942 USD. Thậm chí, ông đã phải bán 3,8 triệu cổ phiếu chỉ với mục tiêu lấy tiền trả thuế thu nhập.
Năm 2010, thu nhập Michael là 10,2 triệu USD nhưng một năm sau con số này là 12.983.942 USD. Ông đã phải bán 3,8 triệu USD cổ phiếu chỉ với mục tiêu lấy tiền trả thuế thu nhập.

5. Martin Sorrell – CEO WPP, Anh

Năm 2010, tổng thu nhập của Martin khoảng 7,4 triệu USD, bao gồm lương cứng và tiền thưởng. Tới năm 2011, con số này nhảy vọt lên 11,676 triệu USD, góp phần đưa Martin trở thành CEO truyền thông hưởng lương cao nhất nước Anh.
Năm 2010, tổng thu nhập của Martin khoảng 7,4 triệu USD, bao gồm lương cứng và tiền thưởng. Tới năm 2011, con số này nhảy vọt lên 11,676 triệu USD, góp phần đưa Martin trở thành CEO truyền thông hưởng lương cao nhất nước Anh.

6. Randall J. Weisenburg – CFO Omnicom

Danh sách này cũng bao gồm cả Randall, người hiện là Giám đốc tài chính Tập đoàn truyền thông Omnicom, Mỹ. Năm 2010, thu nhập Randall được hưởng khoảng 8,2 triệu USD. Tuy nhiên, tới năm 2011, con số này đã bật lên tới 10.768.846 USD.
Danh sách các CEO truyền thông cũng bao gồm cả Randall, người hiện là Giám đốc tài chính Tập đoàn truyền thông Omnicom, Mỹ. Năm 2010, thu nhập Randall được hưởng khoảng 8,2 triệu USD. Tuy nhiên, tới năm 2011, con số này đã bật lên tới 10.768.846 USD.

7. Andrew Robertson – CEO BBDO, Mỹ

BBDO là chi nhánh trực thuộc Tập đoàn truyền thông Omnicom tại New York, Mỹ, thành lập từ năm 1891, hiện tại sở hữu 289 văn phòng ở 80 nước trên khắp thế giới. Năm 2010, CEO Andrew của BBDO nhận 6,6 triệu USD tiền lương. Tuy nhiên chỉ một năm sau, con số này đã chạm tới mức gần 9 triệu USD, đạt 8.976 triệu USD bao gồm lương cơ bản và tiền thưởng.
BBDO là chi nhánh trực thuộc Tập đoàn truyền thông Omnicom tại New York, Mỹ, thành lập từ năm 1891, hiện tại sở hữu 289 văn phòng ở 80 nước trên khắp thế giới. Năm 2010, CEO Andrew của BBDO nhận 6,6 triệu USD tiền lương. Sang năm 2011, chưa có con số chính thức về thù lao của ông, nhưng dựa trên mức tăng trưởng thu nhập các lãnh đạo cao cấp Omnicom là 36%, có thể ước tính số tiền ông được hưởng là 8,976 triệu USD bao gồm lương cơ bản và tiền thưởng.

8. Tom Carrol – CEO TBWA Worldwide

TBWA Worldwide cũng là thương hiệu con thuộc Tập đoàn truyền thông lớn nhất thế giới Omnicom, có trụ sở đặt tại New York, Mỹ. Năm 2010, thù lao cho Tom Carrol, CEO hãng, ước tính khoảng 6,5 triệu USD. Sang năm 2011, số tiền ông được hưởng tăng lên 8.84 triệu USD.
TBWA Worldwide cũng là thương hiệu con thuộc Tập đoàn truyền thông lớn nhất thế giới Omnicom, có trụ sở đặt tại New York, Mỹ. Năm 2010, thù lao cho Tom Carrol, CEO hãng, ước tính khoảng 6,5 triệu USD. Sang năm 2011, chưa có con số chính thức về thù lao của ông, nhưng dựa trên mức tăng trưởng thu nhập các lãnh đạo cao cấp Omnicom là 36%, có thể ước tính số tiền ông được hưởng là 8,84 triệu USD.

9. Nicolas Brien – CEO McCann Worldgroup, Mỹ

Do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, thu nhập của Nicolas năm 2010 giảm xuống chỉ còn 4,86 triệu USD. Một năm sau đó, tình hình cũng không khả quan hơn là bao với mức 4.792.665 USD. Tuy nhiên, ông vẫn đứng vững trong danh sách những CEO truyền thông hưởng lương cao nhất thế giới.
Do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, thu nhập của Nicolas năm 2010 giảm xuống chỉ còn 4,86 triệu USD. Một năm sau đó, tình hình cũng không khả quan hơn là bao với mức 4.792.665 USD. Tuy nhiên, ông vẫn đứng vững trong danh sách những CEO truyền thông hưởng lương cao nhất thế giới.

10. Robert Philpott – CEO Synovate, Anh

Synovate là công ty quảng cáo nổi tiếng tại London, Anh do Tập đoàn Aegis Group làm đơn vị chủ quản. Lĩnh vực Synovate tập trung chính bao gồm tư vấn chiến lược, phân tích thị trường và quản trị kinh doanh. Năm ngoái, thu nhập của CEO Synovate, ông Robert Philpott, đạt 4.603.467 USD. Dù cuối năm nay, Robert sẽ nghỉ hưu nhưng những tài sản ông sở hữu như cổ phiếu cùng các hợp đồng giao dịch quyền chọn vẫn tiếp tục sinh lời.
Synovate là công ty quảng cáo nổi tiếng tại Anh, thuộc Tập đoàn Aegis. Lĩnh vực Synovate tập trung chính bao gồm tư vấn chiến lược, phân tích thị trường và quản trị kinh doanh. Năm ngoái, thu nhập của CEO Synovate, ông Robert Philpott, đạt 4.603.467 USD.

Tỷ phú Darwin Deason với 7 lời khuyên dành cho chủ doanh nghiệp


Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, khởi nghiệp với 50 USD vay của cha mình và chiếc Pontiac đời 1949, Darwin Deason trở thành tỉ phú thế giới với trị giá tài sản hiện tại là 1,1 tỷ USD.


Darwin Deason là người sáng lập đồng thời là CEO của công ty Affiliated Computer Service (ACS) từ năm 1988 đến tháng 2/1999. Nhờ vào số tiền thu được sau khi bán ACS cho công ty Xerox vào năm 2009, Darwin Deason đã lọt vào danh sách những người giàu nhất thế giới.
 Nổi tiếng với thói quen “luôn bon chen giành lấy”, Darwin Deason đưa ra 7 lời khuyên cho chủ doanh nghiệp như sau:
1. Chọn điều mình thích và loại hình kinh doanh mà bạn muốn thực hiện. Riêng tôi, tôi không thích kinh doanh bán lẻ. Tôi là người thích đi săn cơ hội kinh doanh hơn là ngồi yên một chỗ và chờ đợi khách hàng tìm đến mua hàng.
2. Để đạt được thành công, bạn phải sẵn lòng làm việc cật lực, bất kể giờ giấc. Chỉ có rất ít chủ doanh nghiệp vừa thành công trong kinh doanh vừa có được gia đình hạnh phúc. Nếu đối với bạn thành công là có được một gia đình hạnh phúc, có thời gian chơi trò chơi cùng con cái hay tham dự chương trình văn nghệ của chúng ở trường thì tôi khuyên bạn không nên trở thành chủ doanh nghiệp.
3. Luôn biết giành lấy. Ghi nhớ điều này để bạn có thể giành lấy những cơ hội tốt nhất cho mình. Thường thì những điều tốt đẹp cũng sẽ đến với những ai biết kiên nhẫn chờ đợi; tuy nhiên những cơ hội đó chỉ là phần thừa còn lại của những người dám giành lấy.
4. Luôn tỉnh táo để nhận ra bước ngoặt trong cuộc đời. Ở tuổi 25, sau khi gặp rắc rối với cấp trên, tôi đã nhận ra rằng chỉ có làm chủ cho chính mình thì tôi mới thật sự thành công. Khoảnh khắc đó chính là bước ngoặt của đời tôi. Bỏ việc ngay ngày hôm đó, tôi bắt tay vào sự nghiệp kinh doanh của mình.
5. Phải chắc rằng những người nhân viên được bạn thuê phải thông minh hơn bạn. Trọng thưởng hậu hĩnh cho họ khi đạt được chỉ tiêu đề ra. Các nhân viên của bạn không thể làm việc hết mình nếu không biết họ sẽ được gì sau đó.
6. Luôn bảo đảm có đủ nguồn vốn cho công việc kinh doanh của mình. Phần lớn các doanh nghiệp phá sản chỉ vì không đủ vốn để xoay vòng.
7. Hãy quyết định xem bạn có thể tự kinh doanh hay cần phải có người hợp tác. Một khi quyết định cần có người hợp tác, phải chắc chắn rằng bằng mọi cách, quyền kiểm soát nằm trong tay bạn.

10 CEO lương cao nhất trong ngành quảng cáo toàn cầu



Đứng đầu là CEO Tập đoàn truyền thông MDC Partners, Candana với thu nhập gần 23,8 triệu USD năm 2011.

1. Miles S. Nadal – CEO MDC Partners, Canada

Năm 2010, lương của Miles khoảng 6 triệu USD nhưng sang năm 2011, con số này tăng tới 278%, nâng tổng mức thù lao vị CEO này hưởng ước tính 23.797.424 USD. Dù doanh thu MDC Partners tăng 37%, chủ yếu đến từ các thương vụ mua lại trong năm qua, nhưng cũng không cứu nổi việc rớt giá cổ phiếu. Công ty này đồng thời cũng phải chịu khoản lỗ trị giá 77 triệu USD. Tuy nhiên, những vấn đề này dường như không tác động lớn tới mức lương trả cho CEO Miles.
Năm 2010, thu nhập của Miles khoảng 6 triệu USD nhưng sang năm 2011, con số này tăng 278%, lên 23.797.424 USD. Dù doanh thu MDC Partners tăng 37%, chủ yếu đến từ các thương vụ mua lại trong năm qua, nhưng cũng không cứu nổi việc rớt giá cổ phiếu. Công ty này đồng thời cũng phải chịu khoản lỗ trị giá 77 triệu USD. Tuy nhiên, những vấn đề trên dường như không tác động lớn tới mức lương trả cho CEO Miles.

2. Maurice Levy – CEO Publicis, Pháp

Trên giấy tờ, Maurice được nhận 4.580.698 USD vào năm 2011. Tuy nhiên sau khi hoàn thuế, con số này lên tới 21,6 triệu USD giúp ông trở thành CEO công ty truyền thông nhận lương cao nhất nước Pháp.

3. John D.Wren – CEO Omnicom, Mỹ

Lương của John một thời từng là đề tài tranh luận của các chuyên viên phân tích phố Wall nhiều năm qua. Hiện tại, thù lao ông nhận trong năm đạt 15.420.537 USD. Thậm chí, ngay cả khi John qua đời, ông vẫn được hưởng 20,4 triệu USD tiền lương. Năm 2011, doanh thu Omnicom tăng 10%, đạt 13,8 tỷ USD, thu nhập ròng lên 15%, tương đương 953 triệu USD, vì lẽ đó, thu nhập của John cũng được thêm 43%.
Lương của John từng là đề tài tranh luận của các chuyên viên phân tích phố Wall nhiều năm qua. Thù lao ông nhận trong năm ngoái đạt 15.420.537 USD. Năm 2011, doanh thu Omnicom tăng 10%, đạt 13,8 tỷ USD, thu nhập ròng lên 15%, tương đương 953 triệu USD, vì lẽ đó, thu nhập của John cũng được thêm 43%.

4. Michael I. Roth – CEO Interpublic Group, Mỹ

Năm 2010, thu nhập Michael nhận tăng lên tới 12.983.942 USD. Thậm chí, ông đã phải bán 3,8 triệu cổ phiếu chỉ với mục tiêu lấy tiền trả thuế thu nhập.
Năm 2010, thu nhập Michael là 10,2 triệu USD nhưng một năm sau con số này là 12.983.942 USD. Ông đã phải bán 3,8 triệu USD cổ phiếu chỉ với mục tiêu lấy tiền trả thuế thu nhập.

5. Martin Sorrell – CEO WPP, Anh

Năm 2010, tổng thu nhập của Martin khoảng 7,4 triệu USD, bao gồm lương cứng và tiền thưởng. Tới năm 2011, con số này nhảy vọt lên 11,676 triệu USD, góp phần đưa Martin trở thành CEO truyền thông hưởng lương cao nhất nước Anh.
Năm 2010, tổng thu nhập của Martin khoảng 7,4 triệu USD, bao gồm lương cứng và tiền thưởng. Tới năm 2011, con số này nhảy vọt lên 11,676 triệu USD, góp phần đưa Martin trở thành CEO truyền thông hưởng lương cao nhất nước Anh.

6. Randall J. Weisenburg – CFO Omnicom

Danh sách này cũng bao gồm cả Randall, người hiện là Giám đốc tài chính Tập đoàn truyền thông Omnicom, Mỹ. Năm 2010, thu nhập Randall được hưởng khoảng 8,2 triệu USD. Tuy nhiên, tới năm 2011, con số này đã bật lên tới 10.768.846 USD.
Danh sách các CEO truyền thông cũng bao gồm cả Randall, người hiện là Giám đốc tài chính Tập đoàn truyền thông Omnicom, Mỹ. Năm 2010, thu nhập Randall được hưởng khoảng 8,2 triệu USD. Tuy nhiên, tới năm 2011, con số này đã bật lên tới 10.768.846 USD.

7. Andrew Robertson – CEO BBDO, Mỹ

BBDO là chi nhánh trực thuộc Tập đoàn truyền thông Omnicom tại New York, Mỹ, thành lập từ năm 1891, hiện tại sở hữu 289 văn phòng ở 80 nước trên khắp thế giới. Năm 2010, CEO Andrew của BBDO nhận 6,6 triệu USD tiền lương. Tuy nhiên chỉ một năm sau, con số này đã chạm tới mức gần 9 triệu USD, đạt 8.976 triệu USD bao gồm lương cơ bản và tiền thưởng.
BBDO là chi nhánh trực thuộc Tập đoàn truyền thông Omnicom tại New York, Mỹ, thành lập từ năm 1891, hiện tại sở hữu 289 văn phòng ở 80 nước trên khắp thế giới. Năm 2010, CEO Andrew của BBDO nhận 6,6 triệu USD tiền lương. Sang năm 2011, chưa có con số chính thức về thù lao của ông, nhưng dựa trên mức tăng trưởng thu nhập các lãnh đạo cao cấp Omnicom là 36%, có thể ước tính số tiền ông được hưởng là 8,976 triệu USD bao gồm lương cơ bản và tiền thưởng.

8. Tom Carrol – CEO TBWA Worldwide

TBWA Worldwide cũng là thương hiệu con thuộc Tập đoàn truyền thông lớn nhất thế giới Omnicom, có trụ sở đặt tại New York, Mỹ. Năm 2010, thù lao cho Tom Carrol, CEO hãng, ước tính khoảng 6,5 triệu USD. Sang năm 2011, số tiền ông được hưởng tăng lên 8.84 triệu USD.
TBWA Worldwide cũng là thương hiệu con thuộc Tập đoàn truyền thông lớn nhất thế giới Omnicom, có trụ sở đặt tại New York, Mỹ. Năm 2010, thù lao cho Tom Carrol, CEO hãng, ước tính khoảng 6,5 triệu USD. Sang năm 2011, chưa có con số chính thức về thù lao của ông, nhưng dựa trên mức tăng trưởng thu nhập các lãnh đạo cao cấp Omnicom là 36%, có thể ước tính số tiền ông được hưởng là 8,84 triệu USD.

9. Nicolas Brien – CEO McCann Worldgroup, Mỹ

Do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, thu nhập của Nicolas năm 2010 giảm xuống chỉ còn 4,86 triệu USD. Một năm sau đó, tình hình cũng không khả quan hơn là bao với mức 4.792.665 USD. Tuy nhiên, ông vẫn đứng vững trong danh sách những CEO truyền thông hưởng lương cao nhất thế giới.
Do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, thu nhập của Nicolas năm 2010 giảm xuống chỉ còn 4,86 triệu USD. Một năm sau đó, tình hình cũng không khả quan hơn là bao với mức 4.792.665 USD. Tuy nhiên, ông vẫn đứng vững trong danh sách những CEO truyền thông hưởng lương cao nhất thế giới.

10. Robert Philpott – CEO Synovate, Anh

Synovate là công ty quảng cáo nổi tiếng tại London, Anh do Tập đoàn Aegis Group làm đơn vị chủ quản. Lĩnh vực Synovate tập trung chính bao gồm tư vấn chiến lược, phân tích thị trường và quản trị kinh doanh. Năm ngoái, thu nhập của CEO Synovate, ông Robert Philpott, đạt 4.603.467 USD. Dù cuối năm nay, Robert sẽ nghỉ hưu nhưng những tài sản ông sở hữu như cổ phiếu cùng các hợp đồng giao dịch quyền chọn vẫn tiếp tục sinh lời.
Synovate là công ty quảng cáo nổi tiếng tại Anh, thuộc Tập đoàn Aegis. Lĩnh vực Synovate tập trung chính bao gồm tư vấn chiến lược, phân tích thị trường và quản trị kinh doanh. Năm ngoái, thu nhập của CEO Synovate, ông Robert Philpott, đạt 4.603.467 USD.
Tường Vi (theo Business Insider)

Sử dụng lực đòn bẩy để đạt mục tiêu trong cuộc sống và kinh doanh



Lực đòn bẩy là gì? bao gồm những gì?

Trong vật lý đòn bẩy được biết đến như một công cụ giúp ta nâng một vật nặng ngoài sức kéo của bản thân ta lên một độ cao hoặc vị trí nhất định một cách nhẹ nhàng.
 Trong làm giàu cũng có những công cụ tương tự ta cùng điểm qua một vài chi tiết:
1.    Lực đòn bẩy = tốc độ. Để kiếm một triệu đôla trong một phút, bạn phải thành thạo quy tắc của lực đòn bẩy. Càng có nhiều lực đòn bẩy trong hoạt động gia tăng giá trị của mình, bạn càng kiếm tiền nhanh hơn và dễ dàng hơn.
2.    Đòn bẩy càng dài, tác động càng lớn. Nhà triệu phú tiến bộ biết rằng sự dễ dàng và tốc độ là những đơn vị tiền tệ mới của kinh doanh. Do đó, Nhà triệu phú tiến bộ tạo ra những đòn bẩy rất dài và mạnh.
3.    Những nhà triệu phú là các chuyên gia trong việc sử dụng năm loại lực đòn bẩy trong thế giới kinh doanh:
-    OPM – tiền của người khác.
-    OPE – kinh nghiệm của người khác.
-    OPI – những ý tưởng của người khác.
-    OPT – thời gian của người khác.
-    OPW – công việc của người khác.
4.    Các nhà triệu phú không ngừng tìm kiếm lực đòn bẩy. Nhà triệu phú tiến bộ không ngừng hỏi: Làm thế nào tôi có thể tạo lực đòn bẩy cho tình huống này, cơ hội hay ý tưởng này? Để trở thành một Nhà triệu phú tiến bộ một phút, câu thần chú của bạn phải là: “Lực đòn bẩy ở đâu? Lực đòn bẩy ở đâu?”
5.    Có sáu hình thức chủ chốt cho bạn lực đòn bẩy tối đa.
1)    Nhà cố vấn
2)    Nhóm
3)    Mạng lưới
4)    Mạng lưới vô tận
5)    Các công cụ và kỹ năng
6)    Các phương pháp
Áp dụng tất cả những hình thức lực đòn bẩy này cho một mục tiêu đặt ra.
 
{Nguồn: Sưu tầm từ Internet}

Nghệ thuật quản lý tiền và tài sản của người Do Thái


Trí tuệ người do thái

Do Thái là một dân tộc được thế giới ngưỡng mộ và tôn sùng về trí tuệ sáng tạo và trí thông minh của họ. Chúng ta có câu: "Tiền của thế giới nằm trong tay người Mỹ, nhưng tiền của người Mỹ lại nằm trong túi
người Do Thái". Đó là lời khen ngợi, tán dương dành cho trí tuệ phi thường của người Do Thái. Dưới đây tôi muốn kể cho các bạn 2 câu chuyện của người Do Thái, rất thú vị và phản ảnh chân thực cuộc sống của chúng ta hiện tại, rất hi vọng các bạn đúc rút được bài học cho riêng mình:

+Câu chuyện 1:
   Kahn là người Mỹ gốc Latinh, đứng trước công ty bách hóa, mắt nhìn đủ mọi thương phẩm muôn màu muôn vẻ. Bên cạnh anh có một quý ông người Do Thái ăn mặc rất lịch lãm với điếu xì gà trong tay.
   Kahn cung kính hỏi: "Xì gà của ông thơm quá, chắc là đắt tiền lắm nhỉ?".
   "20 đô-la một điếu". Người đàn ông đáp.
   "Chà..., một ngày ông hút bao nhiêu điếu vậy?"
   "10 điếu".
   "Trời ạ! Ông hút bao lâu rồi?"
   "40 năm trước đã bắt đầu hút."
   "Sao? Ông thử tính xem, nếu không hút thuốc, số tiền đó đủ để mua cả công ty bách hóa này rồi đấy".
   "Nói vậy, anh không hút thuốc?"
   "Tôi không hút thuốc".
   "Vậy, anh mua công ty bách hóa này rồi à?"
   "Chưa"
   "Tôi nói cho anh biết, công ty bách hóa này là của tôi đấy".

 -Bài học:
    Rõ ràng, chẳng ai lại không thừa nhận Kahn là người thông minh. Bởi lẽ, thứ nhất, anh ta tính toán rất nhanh, chỉ trong chớp mắt đã tính ra được mỗi ngày hút 10 điếu xì gà giá 20 đô-la, số tiền hút thuốc suốt 40 năm đủ để mua một công ty bách hóa. Thứ hai, anh hiểu rất rõ đạo lý, cần cù chăm lo chuyện gia đình, tích lũy từ nhỏ đến lớn, hơn nữa dốc sức mà làm, chưa bao giờ hút điếu xì gà giá 20 đô-la.
    Nhưng chẳng ai nói Kahn có trí tuệ sống (thật sự), bởi vì anh không hút xì gà, nhưng cũng không tiết kiệm được số tiền đủ để mua công ty bách hóa. Trí tuệ của Kahn là trí tuệ chết (bảo thủ), trí tuệ của quý ông người Do Thái mới là trí tuệ sống, tiền được sinh ra từ tiền, chứ không phải sự chắt chiu tích góp. Do đó, ông hoàn toàn thoải mái hưởng thụ cuộc sống, sử dụng những thứ xa xỉ nhất.

+ Câu chuyện 2:
   Giáo sư A hỏi giáo sư B: "Trí tuệ và tiền tài, thứ nào quan trọng hơn?"
   "Dĩ nhiên trí tuệ quan trọng hơn tiền tài rồi."
   "Đã thế, tại sao học giả, chuyên gia, tư vấn và chuyên môn giỏi lại phải làm việc cho các thương gia, đại gia giàu có? Mà các đại gia, thương gia không làm việc cho học giả, chuyên gia...đó chứ?"
   "Đơn giản thôi, học giả và các chuyên gia biết giá trị của đồng tiền, còn đại gia lại không biết tầm quan trọng của trí tuệ".
   Về mặt nào đó, câu trả lời của giáo sư B rất có lý: biết giá trị của đồng tiền thì mới làm việc cho người giàu có; còn không biết tầm quan trọng của "trí tuệ" thì mới dám ngạo mạn với nó như thế. Nhưng nếu chúng ta tìm hiểu sâu hơn, bạn sẽ thấy được rằng: nếu học giả và các chuyên gia biết giá trị của của đồng tiền (của cải giàu sang), vậy sao không dùng tri thức (trí tuệ) để có được tiền, mà chỉ làm nô lệ cho nhà giàu để có được "của bố thí" không chút tương xứng"?
  Rõ ràng, học giả và các chuyên gia không hề có trí tuệ thực sự. Thứ mà họ có chỉ là cả khối tri thức. Dù họ biết được giá trị của đồng tiền, nhưng lại không thể điểu khiển được đồng tiền, hoặc không thể khiến đồng tiền phục vụ cho bản thân. Ngược lại, dù người giàu có không học nhiều biết rộng, nhưng lại có thể điều khiền đồng tiền, dùng tiền để nô dịch học giả, bản lĩnh này của họ mới là trí tuệ thật sự.
  Đạo lý rất đơn giản, tiền tài là thước đo của trí tuệ. Tức đồng tiền linh động quan trọng hơn thứ trí tuệ không thể tạo ra tiền, và trí tuệ tạo ra tiền lại quan trọng hơn sự giàu sang đơn thuần. Người Do Thái dùng quan điểm thống nhất biện chứng giữa trí tuệ và đồng tiền để dành được ngôi vị vinh quang "Doanh nhân số 1 thế giới".

(Trích sách: Nghệ thuật quản lý tiền và tài sản của người Do Thái)

10 yêu tố không thế thiểu trong việc lập kế hoạch kinh doanh


Không lập kế hoạch = lập kế hoạch cho thất bại

Lưu ý: Bài viết khá dài, bạn có thể đọc lướt qua, khi nào cần tập trung vào vấn đề gì có thể đọc kỹ
Để thành công, việc đầu tiên trước khi bắt đầu khởi sự một doanh nghiệp là phải lập một kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh, từ khâu phát triển một ý tưởng kinh doanh, nghiên cứu thị trường và tính khả thi của ý tưởng đó, đến việc quản lý các hoạt động kinh doanh hàng ngày khi bắt tay vào thực hiện các ý tưởng kinh doanh đó.

Trong thời kỳ chuyển đổi các mô hình tổ chức và thành lập mới, các doanh nghịêp Việt Nam nói chung, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã ý thức được tầm quan trọng của việc lập kế hoạch kinh doanh. Tuy nhiên các doanh nghiệp này còn chưa chú trọng đến việc lập một kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó để mang lại hiệu quả tối ưu, mà thường đưa ra các kế hoạch sơ sài do thiếu điều kiện về nguồn lực, nhân sự và thời gian.

Bài viết này xin đưa ra một vài ý kiến tham khảo về sự cần thiết và các yêu cầu của một kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh.

Trước hết, nói về sự cần thiết về việc lập kế hoạch kinh doanh. Kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp cũng giống như bản đồ cho bạn đi du lịch một nước nào đó vậy. Một câu nói thường ngày của các nhà kinh tế và quản lý cũng như các chủ doanh nghiệp là: "If business fails to plan, it plans to fail" (Nếu doanh nghiệp thất bại trong việc lập kế hoạch, thì doanh nghiệp đã lập kế hoạch cho sự thất bại rồi đó). Câu nói này bao trùm tất cả mọi ý nghĩa của sự cần thiết phải lập kế hoạch kinh doanh.

Nếu như không có một kế hoạch kinh doanh tốt, cho dù bạn có những ý tưởng kinh doanh vĩ đại đến mức nào thì cũng rất khó thành công, thậm chí còn là thất bại nặng nề. Một kế hoạch kinh doanh tốt không những quyết định sự thành công trong việc biến ý tưởng kinh doanh ban đầu trở thành hiện thực mà còn giúp cho bạn duy trì sự tập trung sau khi đã thành công.

Một kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh nên bao gồm mười nội dung cơ bản như sau:

1. Việc đầu tiên và quan trọng nhất là ý tưởng kinh doanh (bussiness ideas): Bạn phải nung nấu trong đầu một ý tưởng kinh doanh và suy nghĩ kỹ về những ý tưởng đó. Lịch sử đã chứng minh, ý tưởng, dù cho điên rồ hay vĩ đại, thì cũng đều có những khả năng thành công. Ví dụ như Bill Gates từ bỏ trường đại học để thành lập công ty thì lúc đó, nhiều người coi đó là điên rồ nhưng cuối cùng, thế giới ai cũng biết đến sự thành công của ông.

2. Đặt ra mục tiêu kinh doanh và những thành quả cần đạt được (objectives and goals): Đây chính kết quả mà trong ý tưởng kinh doanh cần đạt được. Bạn sẽ phải trả lời những câu hỏi sau: Bạn sẽ đạt được cái gì từ việc kinh doanh của bạn về mặt thời gian, tiền bạc và kinh nghiệm? Làm thế nào để đo lường mức độ thành công của việc kinh doanh đó (ví dụ như tổng doanh thu, lợi nhuận ròng, bao nhiêu nhân công, bao nhiêu thị phần). Sau bao lâu thì có thể đo lường mức độ thành công đó (một năm, hai năm hay năm năm)?

Việc đặt ra mục tiêu và thành quả đạt được có thể gói gọn vào chữ SMART (thông minh) trong đó S là Specific (Cụ thể), M là Measurable (có thể đo lường được), A là Achievable (Có thể đạt được), R là Realistic (Thực tế) và T là Timely (thời hạn)

3. Nghiên cứu và phân tích thị trường: Để đảm bảo kinh doanh thành công, cần phải tổ chức nghiên cứu và phân tích thị trường. Phải xem xét xem trên thị trường đã có những công ty, tổ chức nào đã kinh doanh trong lĩnh vực đó, sự thành công của họ như thế nào, khách hàng của họ là ai, nhu cầu của thị trường trong tương lai như thế nào...

Nếu như bạn không có chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu và phân tích thị trường, tốt nhất là bạn nên tìm đến một công ty tư vấn. Công ty tư vấn sẽ cung cấp cho bạn tất cả những thông tin nghiên cứu và phân tích thị trường với nội dung theo đơn đặt hàng của bạn.

4. Phân tích thế mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ (SWOT analysis): một kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh không thế thiếu mục này. Hơn ai hết, bạn phải biết thế mạnh và điểm yếu của bạn khi thực hiện mục tiêu kinh doanh đó.
Ví dụ như bạn là một chuyên gia máy tính và bạn muốn kinh doanh trong lĩnh vực máy tính thì đó là điểm mạnh trong lĩnh vực mà bạn đang kinh doanh nhưng điểm yếu có thể là bạn chưa có kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm marketing…Phân tích thị trường cũng gíúp cho bạn dự đoán những cơ hội và thách thức đe doạ tới sự thành công của ý tưởng kinh doanh đó khi bắt tay vào thực hiện.

5. Xác lập mô hình tổ chức kinh doanh: Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, bạn sẽ chọn một trong những loại hình kinh doanh như sau: doanh nghịêp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp doanh… Dựa vào phân tích hạn chế và lợi thế của từng hoại hình doanh nghiệp, bạn sẽ quyết định đăng ký kinh doanh theo mô hình doanh nghiệp nào.

6. Lên kế hoạch marketing: Những chiến lược mà bạn sẽ thực hiện để lôi kéo khách hàng và quan trọng hơn là để giữ khách hàng khi đã sử dụng sản phẩm và dịch vụ của bạn. Luôn đặt câu hỏi: làm thế nào để khách hàng biết sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp và chiến lược marketing nào là tốt nhất để làm điều đó. Dù cho sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp của bạn tốt đến mức nào đi nữa nhưng sẽ là vô nghĩa nếu như không ai biết đến doanh nghiệp của bạn.

Ba nguyên tắc cơ bản trước khi lập một kế hoạch marketing là segment (phân loại khách hàng) - target (lựa chọn đối tượng khách hàng công ty hướng tới)- position (xác định vị thế tương lai của công ty, công ty muốn khách hàng nhìn nhận về mình thế nào). Khách hàng phải là điểm xuất phát, đồng thời là điểm chốt cuối cùng của mọi hoạt động marketing.

7. Lập kế hoạch vận hành: Tập trung vào các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, ví dụ như nhân sự, phương tiện máy móc và quy trình lưu hoàn công việc. Những văn bản pháp lý nào điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp của bạn.

8. Có sẵn kế hoạch quản lý con người: Lên cơ chế kiểm soát sự vận hành công việc kinh doanh của bạn bao gồm đội ngũ quản lý, nhân viên và những kỷ năng và trình độ của họ. Có sự phân công công việc và phân quyền rõ ràng. Thường xuyên có các buổi họp đánh giá tình hình hoạt động của các phòng ban. Có kế hoạch đào tạo và phát triển nhân viên và các cấp quản lý.

9. Kế hoạch tài chính: Nguồn tài chính nào để tài trợ cho kế hoạch kinh doanh, ví dụ như nguồn vốn vay, vốn của chủ sở hữu và các nguồn tài chính đó sẽ được sử dụng như thế nào. Nhiều doanh nhân cho rằng, kế hoạch tài chính là quan trọng nhất quyết định sự sống còn của doanh nghiệp.

Dựa trên những số liệu từ nghiên cứu thị trường, bạn sẽ phải tiên đoán trong năm năm đầu các dòng tiền sẽ như thế nào, lúc nào sẽ cân bằng thu chi, lúc nào sẽ hoàn vốn, sự luân chuyển của đồng vốn như thế nào. Vốn luân chuyển là nguyên nhân mà nhiều doanh nghiệp mới thường thất bại nên lập kế hoạch chi tiết cho vấn đề này là một vấn đề sống còn.

Ví dụ như bạn cần phải đảm bảo rằng trong khi bạn đang trông chờ các nguồn thu vào thì đã có đủ một khỏan tiền để trang trải các chi phí cho nhà cung cấp. Nếu bạn không cân nhắc đến yếu tố này một cách nghiêm chỉnh, bạn có thể gặp thất bại mặc dù đó là một bản kế hoạch kinh doanh có thể thành công. Nếu như bạn không có chuyên môn về tài chính, tốt nhất nên tham gia các lớp học ngắn hạn đào tạo về tài chính cho nhà quản lý.

10. Kế hoạch thực hiện: Liệt kê các hoạt động chi tiết để doanh nghiệp đạt được mục đích đề ra và càng chi tiết càng tốt. Đặt ra những ưu tiên và những hạn định về thời gian cho mỗi công việc để giúp bạn có thể theo dõi và đo lường mức độ hoàn thành công việc. Nên lưu ý dành thời gian cho những công việc phát sinh và những khó khăn khách quan trong quá trình thực hiện.

Sau khi bạn đã vạch ra một kế hoạch kinh doanh chi tiết, hãy thường xuyên rà soát lại và bổ sung thêm. Hơn nữa, luôn đặt mục tiêu cho mỗi công việc cụ thể và đánh giá mức độ thành công của mỗi mục tiêu đó.

Cuối cùng, khi khởi sự một doanh nghiệp, các doanh nhân thường dành hết thời gian cho công việc. Nhưng còn cuộc sống riêng của mình thì sao? Một kế hoạch kinh doanh dù hoàn hảo cũng sẽ khó thành công nếu như bạn không tính đến cuộc sống cá nhân. Khi bạn kết hợp tất cả các mục tiêu kinh doanh của bạn lại với nhau, bạn cũng nên nghĩ đến việc kết hợp cả cuộc sống cá nhân của bạn vào kế hoạch này, và đó chính là động lực lớn nhất để đạt mục tiêu hơn bất cứ thứ gì khác.
Nguồn: Sưu tầm

7 nguyên tắc để trở nên giàu có


7 nguyên tắc sống của người giàu

Những nguyên tắc sống của người giàu mà ông Ngô Quang Hùng nêu ra dưới đây có thể là "cẩm nang" cho những ai khao khát làm giàu:

1. Rõ ràng. Biết mình muốn gì? Mục tiêu trong từng giai đoạn là gì?

2. Tập trung: Khi đã có mục tiêu phải toàn tâm toàn ý. Khi tập trung cao độ sẽ lóe lên những ý tưởng táo bạo.

3. Ra quyết định: không phải mọi quyết định đều đúng nhưng thời gian sẽ chứng minh cho bạn thấy đa số quyết định là đúng.

4. Làm việc chuyên nghiệp: Việc ra một đồng, cũng phải làm chuyên nghiệp.

5. Lời nói đi đôi với việc làm: Nói những điều mình làm và làm những gì mình nói.

6. Tập-Tập-Tập

Trước khi bắt tay vào làm bất cứ việc gì, đặc biệt là kinh doanh, các bạn đều phải tập. Sau lần tập thứ nhất, bạn sẽ mắc lỗi. Sau lần tập thứ 2 mắc lỗi ít hơn. Sau lần tập thứ 3, bạn mới có thể thành công. Kinh doanh ảo về bất động sản theo quy tắc 100-10-3-1 là minh chứng hùng hồn nhất cho điều này. Thành công là sự nở hoa trong nhọc nhằn.

7. Khi thất bại, hãy tự an ủi mình bằng cách đưa ra 4 điều tự vấn:

+ Mình đã học được điều gì tuyệt vời từ sự việc này?



+ Số tiền mình mất là một phần hay là tất cả tài sản của mình?



+ Mình chỉ mất tiền chứ không mất sinh mạng



+ Kẻ lấy trộm là nó chứ không phải là mình
Nguồn: Sưu tầm

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More